.

.

Bài Xem Nhiều Trong Tháng

Tuesday, September 6, 2011

Tu Niệm Đúng Chánh Pháp Sẽ Chuyển Hóa Nghiệp Chướng

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Hiện mỗi tối tôi đều tụng kinh Nhật tụng, lễ Phật xong tôi trì niệm chú Đại Bi 21biến, tụng kinh Dược Sư, niệm danh hiệu A Di Đà Phật 108 lần. Tôi mong muốn được chỉ dẫn thêm để tu niệm đúng Chánh pháp nhằm vượt qua nghiệp chướng và khổ nạn của bản thân.
(MẠC TRÚC ĐIỀN, saigont4@yahoo.com.vn)

Gieo Nhân Lành Chắc Chắn Sẽ Gặt Quả Tốt

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Tôi là một Phật tử bình thường. Trong cuộc sống gia đình và ở cơ quan, tôi luôn cố gắng hoàn thành mọi công việc. Với bản tính hiền lành, tốt bụng, tôi luôn giúp đỡ bạn bè và đồng nghiệp trong công việc nhưng họ lại nói xấu tôi đủ điều. Tôi không biết tại sao mình đối xử với mọi người xung quanh rất tốt và chỉ mong họ đối xử lại với mình chỉ bằng một nửa thôi mà cũng không được.

Tụng Kinh Tại Nhà

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Tôi là một Phật tử tại gia có nhân duyên với pháp môn Tịnh độ. Tuy công việc bận rộn nhưng tôi đã ăn chay trường, thường xuyên đi chùa và tụng kinh niệm Phật hàng đêm tại nhà. Tôi thường tụng kinh A Di Đà, Phổ Môn, Dược Sư, trì chú Đại Bi và thực hành niệm Phật cùng các nghi thức sám hối. Như vậy có cần phải tụng thêm kinh nào nữa không? Nếu tụng thì cách thức thế nào? Tôi có thói quen mở máy MP3 nghe kinh, niệm Phật và tụng niệm chung với máy có được không?

Monday, September 5, 2011

Tư Vấn Để Chia Xẻ & Học Hỏi

Nhiên Như-Quảng Tánh
Chúng tôi bắt đầu đảm nhiệm chuyên mục Tư vấn từ tháng 6-2002 và duy trì cho đến nay. Hơn 7 năm là một chặng đường dài để sẻ chia và học hỏi. Trong một chừng mực nào đó, Tổ Tư vấn chúng tôi đã là nhịp cầu thân ái giữa tòa soạn và bạn đọc gần xa.

Bà La Môn

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Chúng tôi là Phật tử nên thường xuyên đọc các kinh, sách liên quan đến Phật giáo. Gần đây, chúng tôi đọc cuốn Kinh Tụng Hàng Ngày do thầy Thích Nhật Từ biên soạn, ở phần kinh “Danh ngôn Chánh pháp” có những đoạn sau: “Với người mà miệng ý thân/Mọi điều làm ác xưa gần nay xa/Giữ gìn ba nghiệp thật thà/Thì Ta gọi họ là Bà la môn” hay “Giữa thù, thân thiện không thù/Giữa vòng hung hãn ôn nhu nhân hòa/Giữa vòng ô nhiễm không sa/Thì Ta gọi đó là Bà la môn”.

Tướng Nhục Kế

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Tôi xem các tranh tượng Đức Phật Thích Ca và chư Tăng thì thấy Phật có tóc mà tất cả chư Tăng thì cạo đầu. Xin quý Báo cho biết tại sao? (THÍCH TRÍ TUỆ; thichtritue...@ymail.com)

Như Lai Thập Hiệu & Như Lai Thập Lực

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Tôi đọc kinh biết Như Lai thập hiệu và Như Lai thập lực nhưng không hiểu rõ về ý nghĩa. Mong quý Báo giải thích.(TÂM THỦY, Q.3, TP.HCM, tinhbien19...@yahoo.com)

Xưng Hô & Ứng Xử Như Thế Nào Đối Với Người Thân Đã Xuất Gia

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Tôi có một người cháu gái xuất gia, hiện đã thọ giới Sa di ni. Thỉnh thoảng cô về thăm nhà vẫn “được” cha mẹ gọi tên tục như trước và sai bảo các việc linh tinh như lúc còn ở nhà. Tôi không rành về luật nghi trong đạo nhưng cảm thấy có gì đó… không ổn. Kính hỏi quý Báo, những người trong gia đình nên xưng hô và ứng xử thế nào đối với người thân đã xuất gia cho đúng đạo? (ĐINH HỮU HẠNH, thị trấn Trảng Bom, Đồng Nai)

Phát Hành Kinh Sách & Băng Đĩa Không Thuộc Giáo Điển Phật Giáo

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Tôi được biết kinh Huỳnh đình, kinh Địa mẫu và một số kinh sách khác nữa không thuộc kinh điển Phật giáo. Vậy thì vì sao phần lớn các phòng phát hành văn hóa phẩm Phật giáo (PPH VHPPG) tại TP.HCM đều có phát hành sách và CD-VCD liên quan tới việc thờ cúng và trì tụng các kinh ấy? Thiết nghĩ, việc phát hành các kinh sách, băng đĩa như kinh

Tu Tại Gia

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Trước đây tôi sống rất phóng túng, tạo nhiều tội lỗi nhưng nhờ duyên lành với Phật pháp nên đã hồi tâm tu tập ở nhà được hơn 2 năm rồi, chuyên trì tụng kinh Nhật tụng và niệm Phật theo pháp môn Tịnh độ. Tuy nhiên tôi chưa quy y hay theo một đạo tràng nào mà chỉ ở nhà tụng kinh, niệm Phật thôi. Xin hỏi quý Báo, cách tu niệm của tôi đã đúng với Chánh pháp chưa? Rất mong được chỉ dẫn. (Lý tấn Phú Vinh, TP.Rạch Giá, Kiên Giang).

Tình Người

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Tôi có một thói quen là khi đi đường, nếu thấy có xe cấp cứu chạy qua là tôi lại âm thầm cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho bệnh nhân trên xe tai qua nạn khỏi. Rồi mỗi khi thấy xe tang hay đi qua nhà có đám ma là tôi lại cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho người mất sớm siêu sanh Tịnh độ, được Phật A Di Đà rước về cõi Cực lạc. Xin hỏi quý Báo, tôi cầu nguyện như vậy Tam bảo có chứng giám cho lòng thành của tôi không? Cầu nguyện như thế có lợi ích như thế nào? (PHƯƠNG THẢO; mrs.lephuongthao@gmail.com)

Trăn Trở Về Việc Tụng Kinh Âm Hán Việt

Nhiên Như-Quảng Tánh
Chúng tôi là những Phật tử thuần thành, đạo tâm kiên cố, ngày đêm trì tụng kinh Phật. Chỉ tiếc rằng, đa phần kinh Nhật tụng và những nghi thức tụng niệm đều dùng chữ phiên âm Hán-Việt, nên dù đọc tụng hàng ngày nhưng vẫn không hiểu nghĩa.
Chúng tôi biết rằng, người Trung Quốc từ xa xưa đã dịch kinh Phật từ tiếng Ấn Độ sang tiếng Hán để đọc và trì tụng. Vậy thì tại sao đến tận ngày nay, Phật tử Việt lại phải tụng đọc kinh bằng âm Hán-Việt mà không tụng kinh thuần tiếng Việt?

Chuyển Hóa Tục Hái Lộc Thành Xin Lộc

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Trong những ngày Tết vừa qua, nhất là vào tối giao thừa và sáng mồng một, có không ít khách du xuân cùng người đi lễ chùa đầu năm mới xin lộc chùa bằng cách bẻ cành (cây kiểng), hái hoa một cách thô bạo, không thương tiếc, khiến vườn chùa trơ trọi, tiêu điều như vừa trải qua một trận càn.

Sunday, September 4, 2011

Nghe "Tụng Kinh, Trì Chú"

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Hàng ngày tôi đều nghe trì chú Đại Bi bằng cách mở máy vi tính, gắn tai nghe (headphone) để nghe, rồi cầm cuốn kinh để đọc thầm hoặc dò theo. Đôi lúc thì tôi ngồi (hoặc nằm) nghe kinh hoặc nghe niệm Phật cũng từ tai nghe nối với máy vi tính. Xin hỏi như vậy thì có được gọi là trì niệm kinh chú không?

Tượng Phật Có Từ Bao Giờ ?

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Con là một Phật tử chuyên hỷ cúng tượng Phật cho các chùa, nhưng con chưa hiểu rõ lắm về nguyên nhân do đâu mà có tượng Phật. Vậy tượng Phật có từ bao giờ ? Ai là người đầu tiên tạo tượng Phật? Xin cho biết sơ lược về việc tạo tượng Phật vào lúc đó.

Cách Thức Thờ Phật

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Nhà chúng con có một lầu cho thuê, người thuê ở trên và gia đình chúng con ở dưới. Dù là Phật tử nhưng chúng con không dám thờ Phật vì sợ thất kính. Hiện tại chúng con vẫn thắp nhang, cúng hoa trái nhưng không thờ hình tượng Phật. Xin hỏi chúng con thờ Phật được không và nên thờ Phật như thế nào?

Đốt Nhang Quá Nhiều

Nhiên Như-Quảng Tánh
Đáp: Bạn Nguyễn Phúc Bảo thân mến!
Càng ngày, người đi lễ chùa càng đông, nhất là vào những dịp lễ lớn thì người đông như hội. Đây là một tín hiệu đáng mừng, vì khi con người biết quy kính Tam bảo để hướng thiện và nuôi dưỡng mầm thiện lành thì xã hội và đất nước ngày càng thịnh phát hơn.

Phật Giáo Quan Niệm Như Thế Nào Về Nguồn Gốc Loài Người ?

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Một lần, tôi có đọc được một đoạn của bài viết trong báo Giác Ngộ như sau “Khi được hỏi con người ở thế giới này từ đâu có, trong một bản kinh Phật trả lời: có những vị Trời sắp hết phước, họ nhìn xuống thế giới này thấy có ánh sáng liền tìm đến. Tới nơi, họ ăn thử trái cây nơi đây thấy ngon, liền mất thần thông nên ở lại luôn, làm tổ tiên loài người...”.

Hồi Quang Phản Chiếu

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Xin cho biết "Hồi quang phản chiếu" và "Phản quan tự kỷ" trong nhà thiền thường dùng có ý nghĩa giống và khác nhau thế nào? (BÚP SEN, Phú Thọ)

Saturday, September 3, 2011

Tại Sao "Oan Ức Mà Không Cần Biện Bạch" ?

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Con kính nghe: “Oan ức không cần biện bạch vì làm như vậy là hèn nhát mà trả thù thì oán đối kéo dài”. Tuy nhiên, trong cuộc sống thường nhật, con phải tiếp xúc với biết bao người, những người này đối xứ tốt với con cũng nhiều và gây phiền toái cho con cũng không ít.

Phương Pháp & Lợi Ích của Việc Tu Tập Bát Quan Trai

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Tại chùa nơi chỗ con ở thường có tổ chức thọ Bát quan trai cho Phật tử. Xin cho con biết nguồn gốc, phương pháp và lợi ích của việc tu tập Bát quan trai. Con có thể đem công đức tu tập ấy hồi hướng cho những người thân được không ?

Làm Việc Thiện Nhưng Sao Chưa Gặp Quả Lành ?

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Con là một Phật tử thường đi chùa vào những ngày lễ lớn. Trong những tháng ngày gần đây, tự nhiên con rất thích đi chùa và làm công tác từ thiện. Thế nhưng, dạo này con gặp phải một số rắc rối về kinh tế, buôn bán thất bại, bị nợ nần, tính tình nóng nảy, quan hệ bạn bè và gia đình trở nên căng thẳng.

Mối Liên Hệ Giữa Tri Thức & Trí Tuệ

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Đạo Phật là đạo của trí tuệ, thế thì để đạt đến trí tuệ có cần phải kiện toàn tri thức hay không? Con đường nhận thức theo Phật giáo được diễn ra như thế nào? Có hay không có một phương pháp nhận thức đặc thù của Phật giáo?

Đàn Kinh

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Tôi là người thực tập theo pháp môn Thiền tông, tâm đắc với bộ Pháp Bảo Đàn hay còn gọi là Đàn kinh. Tuy nhiên, tôi nghe nói có khá nhiều truyền bản Đàn kinh khác nhau. Xin quý Báo cho biết thêm về vấn đề này. (TRÚC ĐÔNG, Q.8, TP.HCM)

Hàng Cư Sĩ Có Nên Xuống Tóc & Mặc Y Phục Như Người Xuất Gia ?

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Hai vợ chồng tôi nay tuổi đã gần 70, quy y Tam bảo từ rất lâu, hiện đã phát tâm thọ Bồ tát giới. Nay chúng tôi có tâm nguyện xuống tóc, mặc y phục và thực hành tu niệm như người xuất gia.

Mơ Gặp "Ma"

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Tôi là Phật tử, đã nghiên cứu và học tập giáo lý đạo Phật gần 20 năm nay. Thời gian gần đây, trong những giấc ngủ trưa tôi hay mơ gặp “ma”. Trong giấc mơ, sau khi đấu lý với “ma” bất phân thắng bại, tôi bị bọn “ma” vây bắt. Tôi liền chạy và hét lên liền tỉnh cơn mơ. Xin quý Báo cho biết hiện tượng trên là gì? Có cách nào khắc phục không? (NGUYỄN CHÍ HÀO, Thiệu Hóa, Thanh Hóa)

Đi Tu Rồi, Hành Nghề Y Được Không?

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Cháu hiện đang học lớp 11, cháu muốn hỏi quý Báo hai điều:
- Khi con người (chúng sanh nói chung) tùy nghiệp đầu thai vào một cảnh giới khác thì giới tính có thay đổi không?
- Cháu sẽ thi vào ngành y, sau đó phụng dưỡng cha mẹ trọn tình hiếu đạo xong thì xuất gia. Như thế có muộn quá không? Và sau khi xuất gia, có được tiếp tục hành nghề y không?
(HOA SEN TRẮNG, Bưu điện Phan Thiết, Bình Thuận)

Đao Lợi & Đâu Suất

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Xin quý Báo cho biết đại lược về cung trời Đao-lợi và Đâu-suất. Tu tập nhân hạnh nào thì được sanh về Tịnh độ Đâu-suất? (TỪ HÒA, Đồng Tháp; NGUYÊN SÁNG, Bà Rịa-Vũng Tàu).

Sáu Thời

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Tôi trì tụng nghi thức cầu an, có đoạn: “Nguyện ngày an lành đêm an lành/Đêm ngày sáu thời đều an lành”. Kính hỏi quý Báo, sáu thời trong một ngày đêm là những thời nào? (NGUYÊN HÙNG, Vĩnh Hải, Nha Trang)

Phật Lịch

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI:Phật lịch được tính từ năm nào? Ngày nào trong năm sang trang Phật lịch? Vì sao? (TÂM TẤN, tamtan19…@yahoo.com)

Kinh Chép

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: 1964, tôi có duyên lành gặp hai quyển kinh Pháp Bảo Đàn và kinh Kim Cang (dịch nghĩa). Vì kinh đã hư nát nên tôi phát tâm chép lại bằng viết mực rất cẩn thận và chính xác đúng với bản in, đến năm 1968 thì hoàn tất. Đối với tôi, hai bản kinh này rất quý và như là một kỷ vật đối với Tam bảo. Nay tôi đã già yếu và không biết hiến tặng cho ai hoặc lưu giữ bằng cách nào? (NGUYÊN LẠC, Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk)

Friday, September 2, 2011

Cúng Dường Thầy

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Trước đây tôi đi chùa và cúng dường thầy thường xuyên. Nay vì một số chướng duyên nên tôi chỉ đi chùa vào các ngày lễ lớn, có khóa tu, còn lại thời gian khác thì tu niệm tại nhà. Vừa rồi tôi có phát tâm cúng dường thầy nhưng sau đó nghe một số lời thị phi về thầy nên lại thôi. Như vậy có tội không, nếu có thì hóa giải cách nào? (DIỆU LIÊN, Q.5, TP.HCM)

Nằm Nghe Kinh

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Tôi có điều muốn hỏi quý Báo là: Nằm nghe kinh pháp rồi ngủ quên luôn có tội không? (LÊ ANH QUỐC, leanhquoc1…@gmail.com)

Sự Tương Quan Giữa Mộng & Thực

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Con thường gặp những giấc mơ rất kỳ lạ. Trong mơ, con thấy nhiều hình ảnh, chùa viện mà con chưa từng thấy trước đó bao giờ. Sau đó, trong những dịp đi hành hương hay công tác, con gặp lại những ngôi chùa từng xuất hiện trong giấc mơ với đầy đủ từng chi tiết.

Quan Điểm Phật Giáo Đối Với Vấn Đề Sinh Sản Vô Tính

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Vấn đề sinh sản vô tính (SSVT) theo giáo lý nhà Phật thì lý giải như thế nào? Quan điểm đạo đức của Phật giáo có chấp nhận việc sinh sản vô tính hay không?

Đáp: Nhìn một cách tổng quan thì sự sống của muôn loài nói chung, vốn được thể hiện rất phong phú, đa dạng. Tùy theo nghiệp cảm của từng loài mà có những cách sinh ra và thọ thân sai khác nhau. Trong kinh Thập Thiện đã nói rõ điều này. Vấn đề sinh sản – dù là sinh sản vô tính – cũng chỉ là một trong bốn dạng sinh (noãn, thai, thấp, hóa: sinh bằng trứng, sinh bằng bào thai, sinh từ nơi ẩm thấp, do biến hóa mà sanh ra) mà từ lâu kinh văn Phật giáo thường ghi nhận.

Nhà khoa học Ian Wilmut và cừu Dolly, con vật sinh sản vô tính đầu tiên trên thế giới được tạo ra từ một tế bào trưởng thành


Về cơ bản, SSVT là một quá trình rất phức tạp, căn cứ vào một số công trình về y học hiện đại, chúng tôi có thể khái quát quá trình đó như sau: Kỹ thuật SSVT là một phát minh vạch thời đại vào những năm gần đây, bao gồm các bước sau:
1. Lấy tế bào bạch cầu của một người đàn ông (hoặc đàn bà), tách phần gien ra.
2. Lấy một noãn của người phụ nữ A, trục toàn bộ gien trong nhân noãn ra rồi cấy phần gien nói trên của người đàn ông (hoặc đàn bà) vào nhân noãn bằng cách kích điện.
3. Noãn sẽ nhân thành phôi phát triển tự nhiên trong môi trường nhân tạo.
4. Cấy phôi đó vào tử cung người phụ nữ B.
5. Thai nhi phát triển bình thường chờ ngày chào đời. Nó sẽ giống người đàn ông (hoặc đàn bà) nói trên như đúc về bộ gien.
Như vậy, xét về thực chất thì quá trình SSVT vừa mang tính Hóa sinh và đồng thời cũng cả tính chất Thai sinh theo lý thuyết nêu trên của Phật giáo. Ở đây, khái niệm hóa sinh cần được hiểu như là một sự tác động (tự thân hoặc do những yếu tố bên ngoài) tạo nên một chuyển biến mới trên một sinh thể nào đó. Và ngay đây, kỹ thuật SSVT tuy là một phát hiện của thời đại nhưng thực chất không khác lắm so với những dạng thức sinh sản đã được đề cập từ lâu trong kinh văn Phật giáo. Thế nhưng, theo Phật giáo thì phải lý giải như thế nào nếu thiếu đi các yếu tố quan trọng khác nhưng vẫn hình thành một cơ thể sống là con người? Trả lời câu hỏi này, thiết tưởng cần phải khảo xét lại những điều kiện để hình thành một con người theo quan điểm Phật giáo.
Căn cứ vào Đại Kinh Đoạn Tận Ái, (Kinh Trung Bộ), một sinh thể sở dĩ được hình thành phải hội đủ nhiều yếu tố, mà trong đó có ba yếu tố chinh sau: thứ nhất là tinh cha, thứ hai là huyết mẹ và một yếu tố rất quan trọng đó chính là nghiệp thức (gandhabha). Chính yếu tố thứ ba này quyết định sự hình thành của sinh thể đó cũng như chi phối toàn bộ tiến trình sống, hình dạng, tâm tính của con người ấy khi trưởng thành. Trở lại vấn đề SSVT, mặc dù thiếu vắng các yếu tố cần để hình thành nên một sinh thể theo quan niệm thông thường. Thế nhưng cần phải thấy rằng, dù là SSVT, dù là sinh sản trong ống nghiệm thì yêu cầu trước tiên phải có một thụ thể ban đầu nào đó, hoặc là cha, hoặc là mẹ. Mặt khác, như đã trình bày, yếu tố quan trọng nhất, quyết định toàn bộ sự tồn tại, hình thành, khả năng sống, tâm lý, tính khí ... là do chính yếu tố nghiệp thức tác động và chi phối. Nếu như với phương tiện kỹ thuật hiện đại, người ta có thể gây tạo nên một sinh thể mặc dù thiếu vắng các yếu tố cần có theo quan niệm thông thường. Thế nhưng ai dám quyết chắc rằng, sinh thể mới được tạo đó sẽ hiện hữu, sẽ sống như một sinh thể bình thường khác nếu như thiếu vắng đi yếu tố nghiệp thức (Gandhabha)? Sự kiện trước đây làm xáo động thế giới là thành tựu SSVT từ con cừu Dolly. Thế nhưng, bạn có biết, để có được một công trình như thế mặc dù những người tham gia có trong tay những phương tiện kỹ thuật cao nhưng phải trải qua gần 300 lần thí nghiệm mới có được thành quả ban đầu này! Quả là một con số không phải nhỏ. Ngay đây, chắc hẳn có người sẽ vội vàng bảo chúng tôi rằng, hiện giờ – ngay lúc tờ báo ra đời – đã có vài đứa trẻ ra đời bằng kỹ thuật SSVT. Thực lòng, qua những thông tin mới nhất từ các tập đoàn truyền thông nổi tiếng trên thế giới, chúng tôi vẫn chưa thấy một cơ quan nào trình bày đầy đủ về dữ liệu, quá trình tiến hành, qui mô của các công trình nhằm nhân bản con người. Chưa ai dám quyết chắc có bao nhiêu lần thất bại trước đó để rồi có được thành quả mà họ đã công bố trước mọi người. Nói dông dài như vậy để thấy rằng, SSVT là một thành tựu kỹ thuật hiện đang trong giai đoạn đầu thử nghiệm và lẽ tất nhiên cũng còn nhiều điều cần bàn cãi về vấn đề này. Một trong những vấn đề nổi cộm là quan điểm về đạo đức khi con người ứng dụng rộng rãi kỹ thuật này thì hậu quả sẽ ra sao?
Thực ra, sự ưu tư về những thành quả từ kỹ thuật SSVT là một ưu tư nên có nhưng chưa phải là trọng tâm trong tình hình hiện nay. Tuy nhiên, sẽ không có gì quá đáng nếu như chúng ta chuẩn bị một tư duy đối với hiện trạng này. Theo quan điểm Phật giáo, thì về cơ bản Phật giáo bao giờ cũng hoan nghênh và chào đón những thành tựu của khoa học kỹ thuật (KHKT) vì mục tiêu phục vụ cho hạnh phúc của con người nói chung. Thành tựu của KHKT mà con người vươn tới trong hàng thế kỷ qua quả là vô tận. Trong số đó, vẫn có những thành tựu đi ngược lại hạnh phúc, đi ngược lại mong muốn của số đông loài người và điều đó đã gặp phải sự không đồng tình của những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Phật giáo xuất phát từ tôn chỉ vì hạnh phúc, vì an lạc cho con người cho nên sẽ hoàn toàn không tán thành những thành tựu KHKT có nguy cơ dẫn đến một hiểm họa cho con người và tất nhiên quan điểm đạo đức của Phật giáo hoàn toàn không chấp nhận những thành tựu khoa học kỹ thuật – công nghệ có nguy cơ dẫn con người đi đến một tương lai đau khổ. Đối với vấn đề SSVT, theo quan điểm riêng của chúng tôi thì Phật giáo hoàn toàn không ủng hộ. Vì lẽ, như đã trình bày, với tiềm lực về trí thức, con người – giả như – có thể phát kiến ra những thành tựu kể trên. Thế thì ai dám quyết chắc rằng, mình sẽ kiểm soát được những thành tựu đó phục vụ cho nhu cầu nhân đạo, phục vụ vì mục tiêu hòa bình và phát triển cho tương lai loài người. Hơn nữa, nếu xét theo mối quan hệ biện chứng giữa trí tuệ và thần thông, thì quan điểm nền tảng của Phật giáo bao giờ cũng khuyên con người hãy đạt đến trí tuệ trước khi chiếm lĩnh phép mầu thần thông. Thành tựu khoa học công nghệ mà con người đạt đến trong những năm gần đầy phải chăng là một dạng khác của thần thông? Và với phép mầu thần thông đó, ai dám quả quyết rằng chỉ và sẽ phục vụ vì mục tiêu hòa bình phát triển cho chính con người? Nhìn vào hiện trạng thực tế cuộc sống, khi những giá trị đạo đức của con người hiện đang bị lung lay, nếu như với những thành tựu đại loại như kỹ thuật SSVT kể trên thì tương lai nhân loại sẽ về đâu?
Từ những điểm đã trình bày, chúng tôi xin được khái quát như sau: vấn đề SSVT đối với giáo lý đạo Phật công bằng mà nói vốn dĩ không xa lạ vì như đã phân tích, giáo lý Phật giáo ở một khía cạnh nào đó đã đề cập và lý giải vấn đề này rồi. Thứ hai, xét về phương diện đạo đức, theo quan điểm của chúng tôi thì Phật giáo không đồng tình với việc áp dụng kỹ thuật SSVT nhằm mục tiêu nhân bản cả một con người. Có thể nói, đây là một vấn đề đã được nêu ra từ lâu và đã và đang được thảo luận. Chúng tôi chỉ xin nêu ra những chủ kiến của riêng mình hầu góp phần chia sẽ một vài quan kiến cùng bạn. Chúc bạn hằng khang an và rất mong được đón nhận các ý kiến khác cùng trao đổi về vấn đề khá nhạy cảm này.
Tổ Tư vấn

Khắc Phục Nỗi Sợ Hãi

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Chúng con là những sinh viên, hiện đang gặp nhiều bất hạnh nên rất sợ hãi. Chúng con nghe một người bạn nói, giáo lý đạo Phật có chỉ cho con người cách thức giải quyết những nỗi sợ hãi bằng tinh thần Bố thí vô úy. Tuy có đọc qua một số kinh sách của Phật giáo nhưng con chưa hiểu rõ Bố thí vô úy là gì?

Đáp: Sợ hãi là một hiệu ứng của tâm lý, một trạng thái tâm lý bất an, lo sợ, kinh hãi… xuất hiện và tồn tại nơi cuộc sống của mỗi chúng sanh từ khi lọt lòng cho đến lúc xuôi tay, nhắm mắt. Có những khi sức lực ta còn tràn đầy, tương lai rộng mở, cơ hội tốt nhất luôn kéo đến với ta; lúc ấy ta tưởng chừng như không còn sợ hãi nhưng kỳ thực nỗi sợ vẫn còn âm ĩ bên trong chúng ta, được ngụy trang dưới hình thức này hay hình thức khác. Có thể nói trong suốt cuộc đời, chúng ta phải đối diện với nhiều nỗi sợ hãi khác nhau và cấp độ của chúng cũng không như nhau.
Lúc còn bé, chúng ta sợ “ma”, sợ những sinh thể hình thù kỳ dị theo sự tưởng tượng của óc non nớt trẻ thơ. Khi lớn lên, có đôi chút hiểu biết thì những nỗi sợ này không còn ám ảnh ta nữa nhưng đồng thời có những nỗi sợ hãi lớn hơn phủ chụp lấy ta: sợ thiếu ăn, sợ mất việc làm, sợ gia đình ly tán, sợ bệnh tật, sợ chiến tranh, sợ chết… cùng vô vàn những nỗi sợ hãi khác.
Từ đây có thể thấy, cuộc sống của con người vốn dĩ đã khổ đau lại càng đau khổ hơn thêm vì luôn chất ngất những nỗi sợ hãi, luôn sống trong sợ hãi. Cho nên, làm cho mọi người hết sợ chính là giúp họ vượt thoát một phần khổ đau và đây cũng là mục tiêu rốt cùng mà giáo lý Vô úy thí nhắm đến.
Vô úy là không sợ hãi, cũng còn gọi là Vô sở úy, Vô bố úy. Bố thí vô úy tức là trang bị cho mọi người, cho chúng sanh năng lực không còn sợ hãi. Muốn thực hiện pháp thí này, yêu cầu trước hết là hành giả phải tự trang bị cho mình khả năng thắng vượt tất cả những nỗi sợ hãi. Muốn thoát khỏi lo sợ, điều đầu tiên là phải biết nguyên nhân, nguồn gốc các nỗi sợ và can đảm đối diện với chúng.
Theo giáo lý đạo Phật, căn nguyên của mọi khổ đau trong đó bao hàm những nổi sợ hãi đều bắt nguồn từ Vô minh (không hiểu biết, không nhận chân được thực tướng của mọi sự vật và hiện tượng). Vì Vô minh nên không nhận thức đúng đắn về cái Tôi, về chính bản thân mình. Cái Tôi hay Tự ngã thực ra chỉ là một tổ hợp của Ngũ uẩn. Chính năm yếu tố Thân thể( Sắc), Cảm giác (Thọ), Tri giác (Tưởng), Tư duy (Hành) và Nhận thức (Thức) kết hợp một cách hài hòa để tạo ra con người, cái Tôi. Một điều cần phải thấy rằng, cái thế giới được con người nhận thức được thông qua ngũ quan chỉ là một phần rất nhỏ của thế giới thực tại. Do đó, luôn tồn tại nơi con người một nhận thức cố hữu: Đây là Tôi và thế giới của Tôi. Nhưng thực chất không có cái Tôi trường tồn, bất diệt; không có cái Tự ngã thuần nhất, bất biến và càng không có cái thế giới vĩnh cửu, thường hằng. Tất cả đều đang vận động, sinh diệt, trôi chảy và thay đổi trong từng phút, từng giây, thậm chí trong mỗi sát-na. Con người và thế giới luôn hiện hữu trong trạng thái Vô thường và Vô ngã.
Tất cả mọi nỗi đau khổ và sợ hãi đều bắt nguồn từ sự nhận thức sai lầm về Tự ngã, về cái Tôi. Khi cái Tôi bị đe doạ, bị mất an ninh thì lập tức xuất hiện một cơ chế phản ứng tự tồn trong tâm lý, nhằm bảo vệ Tự ngã, và đây chính là nguồn cội của mọi sự lo sợ. Tu tập Vô úy là nổ lực quán sát về Ngũ uẩn để thấy được thực chất của con người, bản chất của cái Tôi được cấu thành trên cơ sở là Vô thường và Vô ngã.
Do bị Vô thường chi phối nên cái Tôi và thế giới của Tôi luôn thay đổi, biến hoại và sinh diệt. Tuy nhiên, sự dịch chuyển của cái Tôi ấy không phải ngẫu nhiên, tuỳ tiện mà tuân theo quy luật. Đó là luật Nhân quả, một hiệu ứng của Nghiệp do chính cá nhân tác tạo. Nếu chúng ta tạo nghiệp lành sẽ được phước báo an vui, ngược lại nếu tạo ác nghiệp thì chắc chắn bị quả báo khổ đau. Do đó, dù sợ hãi hay không thì kết quả hạnh phúc hay khổ đau vẫn xảy đến tuỳ theo nghiệp thiện hay ác. Nhận thức được quy luật này, người Phật tử tu tập hạnh Vô úy luôn bình thản, không hề lo sợ hoặc kinh hãi trước bất kỳ biến cố nào, chỉ nổ lực cải tạo nghiệp nhân của chính mình, dẫu cho thế sự thăng trầm, tình đời sáng nắng chiều mưa… thậm chí xem thường cả cái chết.
Chúng ta thường sợ hãi những điều đã xảy ra trong quá khứ hoặc lo sợ những bất hạnh sẽ ập đến đời mình trong tương lai. Có những nổi sợ mông lung, mơ hồ, gần như không xác định nguyên nhân và thời gian cụ thể. Theo Tâm lý học Phật giáo, đây là dấu ấn của biến cố đã xảy ra trong quá khứ, những kinh nghiệm của biến cố này được lưu giữ trong A-lại-da. Chúng sẽ phát huy tác dụng khi hội đủ điều kiện làm cho chúng ta cảm thấy bất an, bồn chồn hoặc sợ hãi. Gần hơn là những bất hạnh xảy ra khi chúng ta còn nhỏ, vết hằn của sự khiếp đảm, tủi nhục in đậm trong tâm thức khiến ta mất niềm tin, luôn “đề cao cảnh giác”. Song song với những sợ hãi quá khứ, con người thường lo sợ về ngày mai. Ý tưởng tương lai mình sẽ thế nào, mình sẽ đi về đâu luôn ám ảnh, đeo bám khiến cho con người luôn ray rứt, sợ sệt. Người Phật tử tu tập hạnh Vô uý luôn nhận thức được rằng: Quá khứ là những điều đã qua, tương lai là những điều chưa đến, hai phạm trù này không có thật. Chỉ có hiện tại, mà hiện tại thì đang trôi chảy. Trong sát na hiện tại thì chẳng có gì phải lo lắng hoặc sợ hãi cả vì tâm đã an trú vào chánh niệm.
Khi đã đạt được sự bình an, tĩnh lặng, không còn dao động, không còn sợ hãi, người Phật tử đã thành tựu Vô úy. Phát nguyện dấn thân, đem sự bình an, không sợ hãi đến với mọi người, đó là hạnh Vô úy thí. Bồ tát Quán Thế Âm là một trong những vị Bồ tát thường đem sự Vô úy đến với những ai thành tâm niệm danh hiệu Ngài. Tuỳ theo hoàn cảnh và điều kiện của chúng sinh mà Ngài thị hiện để che chở và giúp đỡ khiến họ được bình an. Vì hạnh nguyện bố thí Vô úy nên ngoài danh hiệu Quán Thế Âm, Ngài được xưng tụng là Bố Thí Vô Úy Giả.
Hiện tại bạn đang gặp nhiều bất hạnh, bạn lo lắng, hoang mang về tương lai của mình. Tương lai được làm bằng chất liệu của hiện tại nhưng tương lai là điều chưa xảy đến, vốn không thực. Do đó, lo sợ về tương lai là vọng tưởng. Bạn hãy an trú vào hiện tại, ngay đây và bây giờ. Đối diện với sợ hãi, nhận diện nó một cách rõ ràng, bạn sẽ tìm ra được nguyên nhân căn bản của mọi nổi sợ và cách thức giải quyết chúng. Giải toả tâm lý sợ hãi, theo Đạo Phật, là một quá trình nổ lực tu tập, chuyển hóa và khai phóng tâm thức, nhận ra bản chất của cái Tôi (tự ngã) vốn không thực. Nhờ sự duy trì tuệ quán thường trực về thân, tâm và thế giới là do duyên sinh, giả hợp, không có Tự ngã, không có cái Tôi thì tức khắc tất cả các thuộc tính của cái Tôi đều tan biến. Từ đây, hành giả dễ dàng vượt thoát mọi khổ đau, lo lắng và sợ hãi.
Tổ Tư vấn

Thursday, September 1, 2011

Sự Hình Thành Một Thai Nhi, Từ Kinh Điển Đến Khoa Học Hiện Đại

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Nhân đọc kinh trong mùa Vu lan, thấy một bộ kinh (không nhớ tên gọi) mô tả về thể trạng của một sinh thể từ lúc hoài thai đến khi hình thành. Xin kính hỏi, quan điểm đó có phù hợp với những khám phá của khoa học hiện đại hay không? Một điều nữa, chúng tôi vẫn hiện còn phân vân, đó chính là khi người mẹ mang thai thì thần thức nhập thai vào lúc nào?

Đáp: Theo những dữ liệu mà bạn đã mô tả, thì chúng tôi xin xác quyết đó chính là kinh Báo Ân Cha Mẹ. Căn cứ vào kinh Báo Ân Cha Mẹ thì sự phát triển của thai nhi trong quá trình mang thai như sau: “Thai mang một tháng mới như hạt sương rơi trên cỏ, tụ tán mong manh. Hai tháng mới như váng sữa. Ba tháng mới như huyết đọng. Bốn tháng mới tụ hình người. Năm tháng mới có đầu, hai tay và hai chân. Sáu tháng các giác quan mới khai tượng. Bảy tháng gân cốt lông da mới có. Tám tháng mới có lục phủ ngũ tạng. Chín tháng mới thành thai nhi, hấp thụ nguyên khí của mẹ mà sống. Qua tháng thứ mười mới khởi sự chuyển sinh” ( Kinh Báo Ân Cha Mẹ – HT. Thích Trí Quang dịch, 1994).
Trước hết, cần phải thấy rằng ngôn ngữ để chuyển tải chân lý của các sự vật, sự việc trong mỗi thời đại có những điểm khác biệt nhau. Cùng một vấn đề nhưng có thể có sự khác biệt trong cách trình bày, miễn làm sao người đọc có thể cảm nhận sâu sắc chân lý của sự vật. Sự mô tả về hình dạng thai nhi trong kinh văn vừa nêu nằm trong bối cảnh đó. Mặc dù cách xa thời đại hôm nay, dù không có sự hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật hiện đại, nhưng với cái nhìn Tuệ giác, đức Phật đã thấy rõ quá trình vận động và phát triển của mọi sinh linh trong quá trình sống, tồn tại và phát triển của mình. Khám phá thể hiện qua đoạn kinh vừa nêu đã phần nào mình chứng cho Tuệ giác vĩ đại của đức Phật. Vì lẽ, phát kiến đó rất chính xác với những khám phá của khoa học kỹ thuật mà trước hết là của ngành Y học hiện đại.
Theo tạp chí Thuốc Và Sức Khỏe (số 43, trang 23 và số 52, trang 27, 1995) vào ba tuần tuổi, phôi lớn cỡ 2mm, yếu tố vật chất được hình thành lúc đó rất giản đơn nhưng tinh tế, bao gồm ba cơ phận cực kỳ nhỏ mà thuật ngữ gọi là có 3 lá; từ cơ sở này, mọi loại mô sẽ được hình thành về sau. Lúc này, trên mặt của thai nhi vẫn còn phân hai do môt rãnh thần kinh chia cắt. Một tuần sau, rãnh này sẽ khép lại. Mầm của các cơ quan chính từng bước phát triển. Có thể nghe tim phôi đập. Vào cuối tuần thứ tư, gò mắt tự động sụp xuống, không còn tiếp xúc với bề mặt nữa và biến thành một túi nhỏ: đó là thủy tinh thể tương lai. Lớp da bao phần phía trước sẽ biến thành giác mạc. Vào ngày thứ 20, phôi chỉ còn dính với một lớp võ thông qua một cuống nhỏ: cuống rốn. Qua đó, tạo nên sự trao đổi giữa thai và nhau. Vào khoảng tuần thứ năm, xuất hiện những cơ phận (nhú, mầm) có dạng bàn (hình lập thể) và được phân thành ba đoạn: cánh tay, cẳng tay và bàn tay cho chi trên; đùi, cẳng chân và bàn chân cho chi dưới. Vào tuần thứ bảy, các nhú bàn tay dẹt ra, hằn rõ bốn rảnh để hình thành năm ngón tay. Bàn chân cũng hình thành bằng cách ấy sau đó mấy ngày. Vào khoảng "tháng thứ năm của thai kỳ, những tế bào thần kinh sinh sản nhiều và định cư ở những nơi nhất định; còn sau “tuổi bản lề” này, tế bào thần kinh vẫn tiếp tục tăng trưởng và biệt hoá những phần tử định cư ấy cùng các tiếp hợp của chúng” (Thuốc Và Sức Khỏe, 34, 24, 1985). Như vậy, với những phát kiến của khoa học đương đại, cụ thể hơn là với những tiến bộ trong lĩnh vực y học lại một lần nữa khẳng định giá trị vĩnh hằng từ những lời dạy của đức Thế Tôn. Từ đây có thể thấy, về lĩnh vực y học những quan điểm tương tự kể trên của Phật giáo có một tác dụng nhất định trong việc khơi gợi những bước chân khám phá của các nhà nghiên cứu, trong việc tìm kiếm lại những giá trị rất mực gần gũi và thân thiết trong đời sống của chúng ta.
Trở lại vấn đề thứ hai mà bạn hỏi, theo chúng tôi đã gọi là “mang thai” thì đã có sự hiện diện của yếu tố “nghiệp thức” rồi. Theo Phật Giáo, chúng ta được sanh ra từ cái bào thai hành động (Kammayoni). Chính hành động hay Nghiệp của ta trong quá khứ là “cái bào thai nuôi dưỡng và tạo điều kiện” để tái sanh. Lúc thọ thai, chính Nghiệp tạo điều kiện cho thức đầu tiên làm nguồn sống cho thai bào. Chính Nghiệp lực được tác tạo từ những kiếp quá khứ đã kiến tạo những sắc thái tâm linh và sinh thể trong một hiện tượng vật lý sẵn có - tức tinh trùng và noãn sào của cha mẹ - để cấu thành con người. Đề cập đến vấn đề thọ thai, trong kinh Trung Bộ, đức Phật dạy: "Nơi nào có ba yếu tố ấy hợp lại là mầm sống khởi sanh. Nếu cha và mẹ gặp nhau mà không nhằm thời kỳ thọ thai của mẹ và không có một chủng tử (Gandhabba) thì không có mầm sống. Nếu cha mẹ gặp nhau trong thời kỳ thọ thai của mẹ mà không có sự phối hợp của một chủng tử (Gandhabba) thì cũng không có mầm sống. Nếu cha mẹ gặp nhau nhằm thời kỳ thọ thai của mẹ và có một chủng tử thì có mầm sống, do sự phối hợp của ba yếu tố”. Như vậy, đã gọi là “mang thai”, tức yếu tố nghiệp thức (từ bạn dùng là thần thức) đã có mặt.
Tổ Tư vấn (tuvangiacngo@yahoo.com)

Tọa Thiền Trong Mùa Nóng

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Hiện nay thời tiết quá nóng bức, do vậy trong khi tọa thiền, niệm Phật, chúng tôi mở quạt lớn có ảnh hưởng gì không? Chúng tôi biết có một số người tọa thiền riêng trong phòng mà mặc y phục mỏng manh, thậm chí có một số người ở trần, điều đó có nên không? (NGUYỄN MỘNG ĐIỆP, Q.6, TP.HCM; nguyenthai 19…@yahoo.com)

ĐÁP: Bạn Nguyễn Mộng Điệp và nguyenthai thân mến!
Với thời tiết quá nóng bức như hiện nay, quả thật không dễ chịu chút nào cho những người mới thực tập tọa thiền, niệm Phật. Nếu nơi tọa thiền quá nóng, chúng ta có thể sử dụng quạt máy. Tuy nhiên, không nên mở quạt quá mạnh (tốc độ lớn) vì có thể gây ồn. Mặt khác, khi tọa thiền nếu bị luồng gió mạnh thổi vào người sẽ không tốt cho sức khỏe cũng như việc nhiếp tâm thanh tịnh.
Trong mùa nắng nóng, nếu tọa thiền trong phòng riêng thì có thể dùng y phục màu sáng, mềm mỏng và thoáng mát. Không nên cởi trần tọa thiền, dù ở trong mật thất hay phòng riêng, vì thiếu trang nghiêm và ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe. Cũng cần nên nói thêm ở đây là đối với những hành giả có kinh nghiệm tọa thiền và biết điều phục thân tâm thì nóng nực hay giá lạnh bên ngoài không ảnh hưởng lắm đến sự tu tập.
TỔ TƯ VẤN » tuvangiacngo@yahoo.com

Lạy Phật Tội Diệt, Phước Sanh

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Tôi mới thực tập lạy Hồng danh Phật vào mỗi buổi sáng. Tuy nhiên, trong quá trình lễ lạy tâm tôi cứ suy nghĩ lung tung, không được chuyên nhất. Kính hỏi quý Báo là làm cách nào để lạy Phật mà lòng không tạp loạn, được định tĩnh, nhất tâm? Nếu tâm còn dao động như thế thì lễ bái có tiêu trừ được tội chướng không? (TRẦN NGỌC THẢO, Q.1, TP.HCM)

ĐÁP: Bạn Trần Ngọc Thảo thân mến!
Bạn đã có duyên lành với Tam bảo và sự nghiệp tu tập khi biết chọn cho mình pháp môn hành trì lễ lạy Hồng danh Phật. Thực tập bất cứ pháp môn tu nào, trong giai đoạn đầu, cũng đều không dễ nhiếp phục tâm tán loạn của mình. Thấy tâm của mình vọng động, suy nghĩ lung tung cũng là một bước tiến quan trọng trong quá trình tu tập, vì bước đầu đã nhận diện được tâm hoang vu của chính mình. Nếu tinh tấn hành trì, theo thời gian thì chánh niệm tỉnh giác được thiết lập cao độ, vọng tưởng thưa dần, sự tập trung và nhất tâm sẽ xảy ra.
Trong khi lễ bái, miệng xướng danh hiệu Phật, thân năm vóc sát đất phủ phục trước tượng Phật, tâm nghĩ tưởng đến Phật là bậc Đạo sư, là đấng Cha lành với tất cả lòng thành kính. Nên lễ lạy một cách thật chậm rãi, thong thả với tâm thành kính thiết tha. Không nên đặt ra chỉ tiêu như vài trăm lạy trong mỗi khóa lễ và cố lạy cho xong. Điều cần thiết là dù ít nhưng lạy được lạy nào thì sâu sắc, trọn vẹn và hết lòng với cái lạy đó. Phải quán tưởng để khi lạy ta "tiếp xúc" được với Phật, hai bàn tay ôm chân Phật, trán đặt lên bàn chân Ngài với tất cả niềm tôn kính và thiêng liêng. Lạy Phật sâu sắc và trọn vẹn như thế thì mới giao cảm được với Phật, thấy "Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng", và tâm tư nhờ đó lắng đọng, rỗng rang.
Bạn cứ nuôi dưỡng sự vô tâm và tinh tấn chuyên cần trong việc lễ bái hàng ngày. Theo thời gian, tâm của bạn nhờ công phu hành trì lạy Phật sẽ được an tịnh, không những tội chướng tiêu trừ mà phước đức ngày càng tăng trưởng.
TỔ TƯ VẤN » tuvangiacngo@yahoo.com

Mơ Gặp Người Thân

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Sau khi quy y xong một thời gian thì tôi qua Mỹ định cư. Hiện tại nhà mới chưa thờ Phật và chùa thì ở rất xa nên tôi chưa thực hành được việc thờ phụng hay đi chùa tụng niệm, lễ bái. Tôi muốn hỏi do hoàn cảnh nên có sự chểnh mảng vậy có tội không? Tôi nằm ngủ nghe có ai gọi đúng tên họ của mình, hôm khác thì thấy mẹ tặng quà... thật đẹp. Không biết có vấn đề gì không? (thianh24…@yahoo.com)

Đáp: Bạn thianh… thân mến! Trong hoàn cảnh của bạn, mới đặt chân đến nơi đất khách quê người thì tạm thời tưởng nhớ đến chư Phật, Bồ tát và chùa chiền ở quê nhà qua ký ức và kỷ niệm. Bạn có thể vào internet tải xuống những hình ảnh chư Phật, Bồ tát cùng băng đĩa pháp thoại, kinh tụng, niệm Phật v.v… để nghe và tưởng nhớ đến Tam bảo. Sau khi tạm ổn định thì bạn nên thỉnh Phật tôn thờ tại tư gia để nhang khói, chiêm bái và tụng niệm. Vì hoàn cảnh cuộc sống, sự chểnh mảng tu học này xảy ra ngoài ý muốn nên không có tội lỗi gì cả.
Việc mộng mị như bạn trình bày chỉ là biểu hiện của tâm thức khi mới xa quê hương, nhớ thương người thân cùng với mọi việc chưa ổn định nên tâm hay lo lắng, bồn chồn. Bạn đừng lo nghĩ nhiều quá; chuyên tâm niệm Phật, Bồ tát nhiều hơn thì sẽ thanh thản và được các Ngài gia hộ bình an, cát tường.
Chúc bạn tinh tấn!
Tổ Tư vấn (tuvangiacngo@yahoo.com

Nghề Nấu Rượu & Quan Điểm Chánh Mạng

Nhiên Như-Quảng Tánh
Hỏi: Tôi có một người bạn đồng nghiệp, chị ấy có nghề nghiệp ổn định hẵn hoi nhưng bên cạnh nghề nghiệp chính lại có thêm nghề “kháp rượu”. Mặc dù biết nghề này không thích hợp lắm với cương vị hiện tại của mình (Phật tử), nhưng cô ấy vẫn cương quyết thực hành.
Tôi đã nhiều lần khuyên cô ấy nhưng chị ta chả mấy quan tâm và bỏ ngoài tai mọi lời khuyên của tôi. Thoảng có lúc, chị bảo rằng: “tôi đem tiền lời đi làm phước, bố thí thì bù lại mấy hồi”. Tôi đành ngậm ngùi không trả lời được vì vốn kiến thức Phật học nông cạn của mình. Xin cho tôi một lời khuyên để giúp tôi hiểu rõ thêm về đạo Phật và giúp cô bạn của mình sống đúng với tinh thần của một người Phật tử.

Đáp: Qua thư của chị, chúng tôi thật sự xúc cảm trước những ưu tư và tấm lòng quan tâm đến bằng hữu của mình. Nơi đây, xin có vài điều gọi là cùng chia sẽ với chị những nỗi ưu tư đó.
Hơn ai hết, chị đã từng ý thức hết sức rõ ràng: để sống ổn định và phát triển trong cuộc đời này, con người đã có những cách mưu sinh khác nhau. Tùy theo khả năng và điều kiện của từng người mà có thể lựa chọn cho mình một nghề thích hợp nào đó. Lẽ dĩ nhiên, xét ở phương diện cống hiến cho xã hội thì mỗi nghề đều có những giá trị riêng, nhưng dựa trên phương diện đạo đức thì có nhiều vấn đề cần phải luận bàn.
Căn cứ vào lý thuyết Chánh mạng của Phật giáo thì có những phương thức mưu sinh thánh thiện, thăng hoa nhưng cũng có những nghề có khuynh hướng dẫn đời sống con người đi vào trong cạm bẩy, đau khổ ở đời này cũng như nhiều đời về sau. Có lẽ, thực tế sinh động của cuộc sống là một minh chứng rõ ràng cho những quan điểm vừa nêu. Vì nếu như, ai đó đảm nhận một cách thức kiếm sống đầy hiểm nguy như sản xuất ma túy, buôn bán vũ khí...thì không những người đó đang sống trong nguy hiểm mà còn gây ra bao mối hiểm họa cho người.
Ở đây, trong việc hành nghề “kháp rượu” của người bạn của chị, mặc dù cấp độ chưa phải là nghiêm trọng nhưng nếu nhìn xa hơn, ta sẽ thấy ẩn tàng đâu đó những mối hiểm nguy đang rình rập mà ta là kẻ đang vô tình gieo rắc. Hình ảnh những anh chàng say xỉn vật vờ, sống báo hại gia đình, vợ con; những ca cấp cứu tai nạn giao thông có nguyên nhân xa là do ma men đưa lối nên “không làm chủ tốc độ”...đã phần nào phản ánh một cách sinh động những tác hại từ rượu, bia mà các chất gây nghiện. Không phải không có lý do khi các cơ quan hữu quan đánh thuế thật nặng vào những mặt hàng này và càng hơn thế nữa, ở một số nước phát triển người ta xây dựng những dự luật phạt thật nặng những người sử dụng thuốc lá, rựợu, bia trong khi làm việc. Đành rằng xét trên phương diện y học, tự bản thân các sản phẩm kể trên nếu sử dụng theo chỉ định với liều lượng vừa phải thì có tác dụng tốt cho sức khỏe. Thế nhưng, có mấy ai sử dụng đúng theo chỉ định đó, nhất là đối với những đệ tử “chân truyền” của ma men?! Cho nên việc hạn chế và thậm chí không sản xuất hay sản xuất có kế hoạch các chất gây nghiện như rượu, bia, thuốc lá là một xu hướng đang chiếm phần ưu thế trong thời đại hôm nay. Và ngay đây, người bạn của chị có lẽ sẽ thấy rõ những điều nên hay không nên khi đảm nhận ngành nghề này. Theo chúng tôi, có lẽ chị ấy khá may mắn vì đây chỉ là một nghề “tay trái” mà thôi. Hy vọng rằng, việc quay trở lại, tập trung vào nghề nghiệp chuyên môn là một một dự kiến không xa dành cho người bạn của chị.
Việc thứ hai, người bạn của chị quả là có một lối suy nghĩ ngược đời – nếu không nói là ấu trĩ - khi trả lời câu hỏi của bạn. Thật đáng tiếc vì suy nghĩ đó trong thực tế vẫn còn tồn tại ở một số người. Trong trường hợp này, bạn cần phải hiểu rõ một vài tính chất của nguyên lý nhân quả để minh giải cho nhận thức sai lầm ấy. Theo nguyên lý nhân quả, một khi đã gây tạo ra một chánh nhân không tốt, thì dù không mong muốn, nhưng quả khổ kéo đến là một hệ quả không bao giờ sai chạy. Cũng trong nguyên lý nhân quả, mặc dù gieo nhân nào thì phải gặt quả tương ứng. Thế nhưng có một yếu tố khá quan trọng là duyên. Ở đây, duyên là những điều kiện phụ thuộc, là những yếu tố đóng vai trò phụ, cùng với chánh nhân để tạo nên một kết quả nào đó. Ngoài chánh nhân ra, việc hình thành nên kết quả cũng phụ thuộc ít nhiều đến yếu tố duyên. Tùy theo điều kiện, tùy theo qui mô và mức độ của duyên mà có sự ảnh hưởng khác nhau đến kết quả cuối cùng. Nơi đây, có một điều cần phải lưu ý, duyên chỉ đóng vai trò là một yếu tố phụ mà thôi.
Như vậy, một khi đã gây tạo ra một nhân bất thiện, nhưng nếu bằng mọi nỗ lực chuyển hoá, đóng góp cho chánh nhân với những thiện duyên, thì sẽ có một sự chuyển biến khả quan đến sự hình thành kết quả. Chính điều này cho thấy nguyên lý nhân quả của Phật giáo khác xa quan điểm số mệnh hay định mệnh. Mặt khác, như đã nói ở trên, với sự cố ý tạo ra một chánh nhân bất thiện và vận dụng các hình thức khác như làm phước bố thí... hòng giảm nhẹ tội thì thực chất là một hành động không thể được. Lập luận đó ấu trĩ như: để trở thành người tốt nên đành phải chấp nhận việc hại người!! Cần phải thấy rằng, phẩm vật vốn dĩ được tạo ra bằng một nguyên nhân không trong sáng thì không thể có được một kết quả tốt đẹp. Dù rằng, bố thí, cúng dường làm phước theo Phật giáo là những việc làm đáng khuyến khích, vì chúng vốn là những yếu tố đóng vai trò là tăng thượng duyên, có khả năng chi phối ít nhiều đến sự hình thành thiện quả. Thế nhưng với dụng tâm không trong sáng, cộng với những phẩm vật ấy được tạo ra bằng phương tiện không trong sáng thì chúng tôi quyết chắc rằng sẽ không có một kết quả tích cực nào chờ đón cả.
Tổ Tư vấn (tuvangiacngo@yahoo.com

Cầu Siêu & Tạo Phước Để Hồi Hướng Cho Hương Linh

Nhiên Như-Quảng Tánh
HỎI: Vừa qua, gia đình tôi có xảy ra chuyện, chỉ trong 60 ngày mà có hai người (bà và chú) chết. Sau đó gia đình vì quá lo lắng nên đi xem bói và nghe phán là bị chết trùng, phải chết thêm mấy người nữa. Trong lễ tuần thất thứ 3 của chú thì chú hộ lên, nhập vào một người nói do kiếp trước chú đã chém đầu một bà, nay con của bà bị chém ấy lên bắt chú và mẹ của chú đi và sẽ còn bắt thêm một số người nữa. Chú còn nói mẹ của chú (bà tôi) ở dưới đó bị xiềng xích đánh đập. Sự việc trên khiến gia đình tôi rất hoang mang và lo lắng, xin quý Báo hoan hỷ chỉ bảo và phân tích cho tôi một số thắc mắc sau:
1. Hiện tượng chết trùng, theo nhà Phật, có hay không? Nguyên nhân và cách khắc phục.
2. Sự việc chú tôi (người chết) về nhập vào một người và nói như vậy có nên tin không?
3. Một số thầy (ở chùa) nói phải chẩn tế và dùng bùa (của đạo Phật) để hóa giải chết trùng. Điều này có đúng không?
4. Đạo Phật ngoài cầu siêu cho người chết, có cách nào khác thiết thực hơn để con cháu trong gia đình đều có thể làm được trong đời sống hàng ngày nhằm hồi hướng phước đức cho hương linh
? (duong_joong…@yahoo.com)

ĐÁP: Bạn duong_joong thân mến!
Trong vòng hai tháng mà gia đình bạn có đến hai người mất (một già, một trẻ) là điều thật đau buồn và gây lo lắng, hoang mang cho cả nhà. Tuy vậy, thay vì tin tưởng tuyệt đối vào Tam bảo để tu tập, cầu nguyện và tạo phước nhằm hồi hướng cho hương linh thì gia đình bạn lại đi xem bói để chuốc thêm những lo lắng không cần thiết. Các vấn đề bạn hỏi, chúng tôi lần lượt trao đổi với bạn như sau:
1- Vấn đề chết trùng, đây là quan niệm về lịch số của Trung Hoa xưa do chết hay an táng nhằm ngày trùng, được lưu truyền và tin tưởng sâu sắc trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Phật giáo không có quan niệm về chết trùng, ngày trùng v.v… Sự sống chết của mỗi người là do nghiệp lực của chính người ấy quyết định và chi phối. Sự chết cùng với ngày giờ chôn cất của một người, dù cho là thân quyến có cộng nghiệp, vẫn không thể ảnh hưởng đến đời sống hay quyết định sự chết của người thân được.
2- Việc một người hộ lên, nhập vào người khác tuy có, nhưng khó có thể xác định "vong" đó đích thực là người thân của mình. Sự lạm xưng vẫn thường xảy ra trong nhiều trường hợp như vậy. Quan trọng hơn, những gì "vong" trình bày (theo như bạn mô tả) hoàn toàn mang sắc thái "oan oan tương báo" của tín ngưỡng dân gian. Mô thức báo oán theo kiểu "do kiếp trước chú đã chém đầu một bà, nay con của bà bị chém ấy lên bắt chú và mẹ của chú đi và sẽ còn bắt thêm một số người nữa" không hề có trong quan điểm Nghiệp và Nhân quả của Phật giáo. Do vậy, nếu người Phật tử tín sâu Tam bảo, có chánh kiến rõ ràng thì không thể tin vào những lời vu vơ, thiếu căn cứ kia được. Bởi lẽ, nghiệp của ai thì người ấy trả và dòng nghiệp lực luôn vận động nên hình thức trả nghiệp cũng theo đó mà uyển chuyển, thay đổi không ngừng.
3- Như đã nói, Phật giáo không có quan niệm về ngày trùng và chết trùng nên chắc chắn không có "bùa" nào để giải trùng cả. Mặt khác, Phật giáo không hề sử dụng bùa ngải để trấn yểm hay trừ khử, xua đuổi ma quỷ. Và nếu có vị xuất gia nào sử dụng thì đó là sự vay mượn của các đạo giáo khác làm phương tiện. Tuy nhiên, đó là con dao hai lưỡi, không ít người mang hệ lụy vì quá lạm dụng vào phương tiện này. Chẩn tế, là hình thức bố thí rộng khắp cho các chúng sanh (nhất là loài ngạ quỷ đói khát) được no đủ. Theo quan điểm Phật giáo, pháp thức chẩn tế là phương tiện nhằm cầu siêu và hồi hướng phước báo bố thí cho hương linh. Nương phước báo này, hương linh có thể được tỉnh thức và sanh vào các cõi lành.
4- Ngoài lễ cầu siêu, đạo Phật còn triển khai rất nhiều pháp thức khác nữa để gia quyến thực hành nhằm trợ duyên cho hương linh. Nhất là trong thời gian sau khi chết, từ 1 đến 49 ngày, hương linh rất mong mỏi người thân làm phước để hồi hướng phước báo cho mình. Những việc làm phước thiện mà thân nhân có thể thực hiện bao gồm: Phát tâm quy y, vâng giữ 5 giới, thực tập ăn chay, đi chùa tụng kinh niệm Phật hàng đêm, tham dự các khóa tu, sống hiền thiện, sẻ chia, bố thí, cúng dường… và đem tất cả những công đức lành này hồi hướng cho hương linh.
Chúc bạn tinh tấn!
TỔ TƯ VẤN (tuvangiacngo@yahoo.com

Quý ở Đức Độ Hơn Là Tiếng Hay

Nhiên Như-Quảng Tánh HỎI: Chùa nơi Phật tử chúng tôi tu học chỉ có hai thầy, một thầy trụ trì và một thầy khác. Do công tác Phật sự nên thầy trụ trì thường hay đi vắng chỉ còn lại thầy kia, nhưng vì thầy kia tuổi cũng đã lớn, giọng đọc kinh rất là khó nghe, nên mỗi lần có lễ cầu siêu hay cầu an thì những vị Phật tử rành rẽ khoa nghi, cách thức cách tụng niệm đứng ra niêm hương làm chủ lễ. Kính hỏi như vậy có phạm lỗi gì không? Là Phật tử có được niêm hương, làm chủ lễ không? Nếu đứng ra niêm hương, chủ lễ thì phải cần có điều kiện gì? (CHÂU THANH XUÂN; chau_thanh_xuan19…@yahoo.com)

ĐÁP: Bạn Châu Thanh Xuân thân mến!
Trong các nghi lễ tụng niệm bái sám hàng ngày hay cầu nguyện an-siêu nói chung, được một hay nhiều vị xuất gia chứng minh, chủ lễ là niềm vinh hạnh cho gia chủ cũng như hàng Phật tử tham dự. Đối với những nơi không có chư Tăng thì các Phật tử cũng có thể làm chủ lễ, cùng với đạo tràng công phu tụng niệm hay cầu nguyện lễ bái.
Riêng ngôi chùa mà bạn đang nương tựa tu học, có đến hai vị thầy là đã khá nhiều (vì còn rất nhiều chùa chưa có vị thầy nào). Dĩ nhiên, thầy trụ trì sẽ làm chủ lễ tất cả các khóa lễ. Trong trường hợp thầy trụ trì bận rộn Phật sự đi xa hoặc bệnh duyên thì vị thầy còn lại sẽ thay mặt thầy trụ trì làm chủ lễ dẫn dắt đạo tràng và Phật tử lễ bái, tụng niệm. Chỉ khi nào cả hai thầy đều có duyên sự (bận rộn hay đau yếu) không thể làm chủ lễ được, thì lúc ấy, quý thầy sẽ chỉ định một vị Phật tử nào đó, thường là các bác trong Ban nghi lễ, làm chủ lễ.
Như thư của bạn trình bày, khi thầy trụ trì đi vắng, còn vị thầy kia do tuổi già và giọng điệu tụng niệm không được hay nên các Phật tử giỏi nghi lễ thường lên niêm hương làm chủ lễ. Theo chúng tôi, sẽ ý nghĩa và lợi lạc hơn rất nhiều nếu các Phật tử cùng đạo tràng cung thỉnh vị thầy già kia niêm hương bạch Phật mật niệm chứng minh cho buổi lễ. Sau đó mời thầy xuống nghỉ ngơi, và một Phật tử "đãi lao" cho chư Tăng bước vào vị trí chủ lễ tiếp tục cuộc lễ. Như vậy, xét về ý nghĩa, tuy vị thầy chỉ chứng minh, niêm hương bạch Phật trong thầm lặng nhưng buổi lễ vẫn được một Tỷ kheo gia trì, dẫn dắt. Người cư sĩ Phật tử, dù rành rẽ khoa nghi và giọng điệu tán tụng hay đến mấy cũng không thể sánh được với vị Tỷ kheo trong ý nghĩa dùng đạo lực và giới pháp để chứng minh, gia trì, hộ niệm và cầu nguyện cho buổi lễ thành tựu như pháp. Bởi giới pháp và đức độ của vị Tỷ kheo xuất gia ly tục mới là điều cần yếu trong việc làm nền tảng cho hiệu lực cầu nguyện. Âm thanh và sắc tướng tuy rất cần trong nghi lễ song chúng chỉ là các yếu tố bên ngoài có tác dụng trợ duyên, đức độ mới là nhân tố quyết định.
Nhân đây, chư vị cư sĩ cũng nên rút tỉa kinh nghiệm lấy làm bài học cho cách ứng xử của mình trước chư Tăng trong mục tiêu mang đến cho bốn chúng đệ tử Phật an hòa, lợi lạc. Có rất nhiều đại lễ như đàn tràng chẩn tế, giải oan bạt độ mà vị Tăng chứng minh không hề đến đàn tràng, chỉ chứng minh từ xa. Dù vậy, nhưng giới đức và đạo lực của các ngài vẫn tác động đến làm cho đàn tràng thành tựu viên mãn. Trở lại vấn đề, nếu hàng cư sĩ chuẩn bị làm lễ cầu an, cầu siêu mà trong đạo tràng có một vị Tăng, dù vị ấy có thể có một số hạn chế về nghi lễ (do tuổi tác hay khác biệt hệ phái, vùng miền…) nhưng hàng Phật tử không vì thế mà không nương nhờ công đức của vị ấy, chí ít là cung thỉnh chư Tăng chứng minh niêm hương bạch Phật. Không vì bất cứ lý do gì, nếu chư Tăng có mặt mà không thỉnh các ngài niêm hương chứng minh thì đó là một điều thiệt thòi cho đạo tràng, nhất là gia chủ có duyên sự xin tác lễ.
Trong trường hợp chùa hay các địa phương chưa có chư Tăng thì quý cư sĩ nào có đạo đức và khả năng về nghi lễ nên phát tâm làm chủ lễ để dẫn chúng tụng niệm. Tất nhiên, vị cư sĩ thay mặt đạo tràng làm chủ lễ thì ngoài khả năng về nghi lễ phải là những Phật tử thuần thành, mẫu mực trong việc tu học như giữ năm giới, thực tập ăn chay, siêng năng tụng niệm… Một người cư sĩ làm chủ lễ cho đạo tràng phải quán sát đức hạnh của tự thân, xem việc làm của mình có được sự đồng thuận của số đông, có mang đến hoan hỷ và an lạc cho đạo tràng tham gia tụng niệm, nhất là phải kịp thời chuyển hóa ngay các tâm niệm tự cao, tự ngã nếu chúng phát sinh.
Chúc bạn tinh tấn!
TỔ TƯ VẤN (tuvangiacngo@yahoo.com)

Xem Thêm